Phía sau cao điểm trấn áp vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam

Nguồn hình ảnh, Bộ Công an
Khi Bộ Công an thông báo khởi tố 5 vụ án và 7 người về hành vi xâm phạm bản quyền, công chúng một phen giật mình vì trong số đó có tên tuổi ca sĩ Quang Lập, và ông Nguyễn Hải Bình - Phó Chủ tịch Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền Tác giả Việt Nam.
Sự kiện này, cùng với việc trấn áp hệ thống website Xôi Lạc TV hồi tháng 3 khi nhà chức trách Việt Nam bắt hơn 30 người để điều tra về các hoạt động liên quan đến bản quyền, cũng như đánh bạc và "truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy", là những động thái cho thấy chính quyền đang tích cực xử lý nghiêm tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ.
Nhưng không chỉ có các website phát sóng lậu hay tác quyền, bản quyền trong âm nhạc - một lĩnh vực khác cũng bị vi phạm rất nhiều, liên quan đến hàng triệu người: bản quyền phần mềm.
Đây là một trong những lĩnh vực mà mà Thủ tướng Lê Minh Hưng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra việc chấp hành bản quyền phần mềm tại doanh nghiệp, cũng như bản quyền phim, âm nhạc, chương trình truyền hình, trò chơi điện tử trên môi trường mạng.
Ông Hưng chỉ đạo những vụ vi phạm nghiêm trọng phải được xử lý nghiêm.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nhanh chóng thông báo về việc lập đoàn kiểm tra các doanh nghiệp sử dụng phần mềm không bản quyền cũng như các hành vi sao chép, phát tán nội dung vi phạm trên website, nền tảng số và mạng xã hội.
Việc sử dụng các phần mềm không có bản quyền, vốn được coi là một giải pháp "tiết kiệm chi phí" là một thực trạng phổ biến ở Việt Nam.
Tú, một nhân viên quảng cáo cho một công ty tư nhân ở TP HCM, thường sử dụng Microsoft Office để viết kịch bản, tính toán các đạo cụ cần thiết và sau đó dựng các thước phim quay được bằng phần mềm Adobe Premiere.
Đáng chú ý là các phần mềm này đều không có bản quyền, điều giúp Tú, không phải tên thật, tiết kiệm khoảng 6-8 triệu/năm vì công ty anh, một doanh nghiệp nhỏ, chỉ hơn 20 nhân viên, không hỗ trợ vấn đề này. Bản thân công ty này cũng không sử dụng các phần mềm có bản quyền, nhằm "tiết kiệm chi phí".
Ngay cả các tổ chức trong hệ thống chính quyền cũng không phải toàn bộ đều sử dụng các phần mềm có bản quyền.
Ông Lương, một nhân viên trong một cơ quan luật pháp tại miền Trung nói rằng tổ chức của ông thường xuyên phải sử dụng bộ ứng dụng của Microsoft.
"Phần mềm lậu hết, chứ tiền đâu," ông Lương, không phải tên thật, nói, đồng thời cho biết thêm máy của ông "do cơ quan cấp cho".
Nhưng chính quyền Việt Nam đang tỏ ra quyết tâm muốn thay đổi hiện trạng đó.
Vào ngày 10/5, Cục Bản quyền tác giả đã gửi văn bản đến các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chương trình máy tính, điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, báo chí, truyền hình, trò chơi điện tử, yêu cầu các tổ chức này không sử dụng chương trình máy tính không có bản quyền.
Động thái này nằm trong chiến dịch cao điểm tháng Năm mà chính phủ Việt Nam thực thi trấn áp các hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ.
Các động thái trừng phạt nghiêm đã trở nên quyết liệt đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành nước duy nhất bị liệt vào danh mục "quốc gia nước ngoài ưu tiên" (PFC) về sở hữu trí tuệ trong danh sách thường niên mà Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) công bố.
Cuối tháng 5 cũng là thời điểm mà USTR sẽ quyết định liệu có khởi xướng điều tra Việt Nam hay không.
Hiệp hội Luật Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (IIPLA) nhận định việc bị xếp vào danh mục PFC đã phản ánh những chuyển dịch rộng lớn hơn trong thương mại toàn cầu: chuyển từ mô hình cạnh tranh dựa trên chi phí thấp sang mô hình cạnh tranh dựa trên các tiêu chuẩn, công nghệ và độ tin cậy của chuỗi cung ứng.
Mô hình tăng trưởng truyền thống của Việt Nam – vốn tập trung vào lao động giá rẻ, các ưu đãi đầu tư và xuất khẩu quy mô lớn – đang vấp phải những giới hạn về khả năng thích ứng trong môi trường mới này.
Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, trước mắt là áp lực từ chính quyền.
Giới xuất khẩu cũng sẽ gặp phải các rủi ro một khi bị phát hiện vi phạm bản quyền mà hệ quả có thể dẫn đến các thiệt hại tài chính nghiêm trọng.
Tuy nhiên, bà Nguyễn Dạ Quyên, Giám đốc Công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng CEL cho rằng, PFC không chỉ là thách thức, mà còn là "cú hích", cơ hội định hình thế hệ doanh nghiệp xuất khẩu mới.
Bà Quyên nói trên chuyên trang Thuế và Hải quan vào ngày 7/5 rằng doanh nghiệp có ba việc "nên làm ngay, gồm rà soát hồ sơ tuân thủ, mở rộng đối thoại cả trong nước lẫn quốc tế, và cuối cùng là "cần xem đây là cơ hội để tăng tốc chuyển đổi sang mô hình sản xuất thông minh và bền vững".

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Ở Việt Nam, việc sử dụng phần mềm lậu đã phổ biến từ rất nhiều năm qua, không chỉ đối với cá nhân mà cả các doanh nghiệp, đặc biệt là với những phần mềm thiết yếu như Microsoft Office hay Adobe.
Nhiều doanh nghiệp hay thậm chí cơ quan hành chính sự nghiệp - như đơn vị công tác của ông Lương đã nhắc đến ở trên - sử dụng hàng trăm máy tính được cài đặt hệ điều hành và các chương trình máy tính bẻ khóa.
Nhiều hội nhóm trên mạng công khai chia cách thức tải phần mềm bẻ khóa, mã kích hoạt phần mềm lậu…
Nhóm người sử dụng không chỉ giới hạn ở các cơ quan, doanh nghiệp mà còn ở trường học. Sự khác biệt cũng có thể thấy rõ ở trường quốc tế và trường công ở Việt Nam.
Minh, sinh viên ngành tài chính năm 2 ở Đại học RMIT của Úc, cơ sở tại TP HCM, chia sẻ rằng tài khoản sinh viên của cô có thể toàn bộ ứng dụng có bản quyền của Microsoft để phục vụ học tập, từ Word, Excel cho đến Teams hay Outlook.
Bức tranh trái ngược được Thanh, sinh viên năm cuối một đại học công ở Huế, ghi nhận, khi tài khoản sinh viên của cô chỉ có thể truy cập được hệ sinh thái trang web của trường mình cũng như của Đại học Huế nói chung.
"Tôi thấy chỉ dùng được Canva Pro," Thanh nói thêm.
Điều này có thể dễ hiểu khi các trường tư, đặc biệt là các cơ quan quốc tế như RMIT, có mức học phí cao gấp nhiều lần các đại học công ở Việt Nam.
Và đối với sinh viên từ một gia đình trung lưu, hàng triệu đồng mỗi năm để sử dụng các phần mềm, ứng dụng này dường như là một số tiền quá lớn.
Thu nhập bình quân của lao động Việt Nam vào quý 1/2026 là 9 triệu đồng/tháng, theo Cục Thống kê.
IIPLA đánh giá hệ điều hành Windows không có bản quyền hay các bộ ứng dụng Office bẻ khóa, lâu nay vẫn rất phổ biến và được xã hội xem là điều bình thường tại Việt Nam.
Hành vi này, theo IIPLA, thường được hợp lý hóa như một biện pháp tiết kiệm chi phí trong giai đoạn quốc gia này còn là một trung tâm sản xuất giá trị thấp, khi mà sở hữu trí tuệ bị coi là một loại chi phí phát triển.
Mặc dù các số liệu chi tiết về tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam ngày nay còn hạn chế, báo cáo hồi năm 2018 của Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) chỉ ra Việt Nam có tỉ lệ cài đặt phần mềm trái phép 74%, thuộc mức cao trên thế giới và nằm trong các nước dẫn đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Quy mô giá trị thương mại của các phần mềm lậu tại Việt Nam vào thời điểm đó lên đến 492 triệu USD. Không có thêm con số cập nhật từ tổ chức này.
Đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, báo cáo BSA nhận định tỷ lệ vi phạm cao không chỉ tạo ra rủi ro bảo mật mà còn kìm hãm sự phát triển kinh tế địa phương, làm chậm quá trình tiếp cận công nghệ tiên tiến và cản trở tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Một phần nguyên nhân khiến tình trạng này kéo dài dai dẳng là do chế tài xử phạt còn quá nhẹ so với lợi ích thu được từ việc vi phạm.
Theo phân tích của công ty tư vấn sở hữu trí tuệ Rouse được công bố tháng 9/2024, trong các vụ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam, mức phạt hành chính tối đa thường rất thấp, không đủ sức tạo ra hiệu ứng răn đe thực sự.
Đặc điểm của thực thi pháp luật về phần mềm tại Việt Nam là phần lớn phụ thuộc vào sự tham gia chủ động của chủ sở hữu phần mềm, đặc biệt trong giai đoạn cảnh báo và đàm phán, theo Rouse.
Nói cách khác, Microsoft hay Adobe muốn thu hồi thiệt hại thì phải tự đi kiện, tự thu thập bằng chứng thay vì được nhà nước chủ động bảo vệ.
Báo cáo hồi cuối tháng Tư của USTR cũng chia sẻ quan điểm về tính răn đe còn yếu của luật pháp Việt Nam.
USTR chỉ ra các cơ quan chức năng Việt Nam đã không tiến hành các biện pháp thực thi đáng kể nào chống lại việc sử dụng phần mềm lậu bởi các doanh nghiệp là người dùng cuối trong khoảng ba năm qua và điều đó đã dẫn đến tình trạng sử dụng phần mềm không bản quyền diễn ra tràn lan.
Nếu Việt Nam bị coi là một mắt xích rủi ro cao trong chuỗi cung ứng công nghệ, hệ lụy có thể sẽ vượt ra ngoài phạm vi của các hàng rào thuế quan tức thời, IIPLA cảnh báo.
Theo đó, những tác động tiềm tàng bao gồm sự sụt giảm niềm tin từ các đối tác lớn và sự do dự từ các nhà đầu tư công nghệ cao, điều này có thể ảnh hưởng đến quỹ đạo kinh tế dài hạn của quốc gia vốn đang lấy khoa học công nghệ là một trong bốn trụ cột phát triển chính.















