Báo chí TP HCM: Tập đoàn truyền thông hay cỗ máy tuyên truyền khổng lồ?

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Hôm nay, ngày 2/7, cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP HCM chính thức đi vào hoạt động, cùng với đó là sự giải thể của một loạt các tờ báo tên tuổi.
Những tâm tư của nhà báo, những tiếc nhớ của công chúng lùi lại phía sau, nhường chỗ cho các diễn ngôn đanh thép của chính quyền về tương lai phát triển của báo chí thành phố.
Đó là một tương lai mà, theo Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang, báo chí TP HCM sẽ phát triển "chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác thông tin, tuyên truyền".
Cụ thể hơn, Phó Bí thư thường trực Lê Quốc Phong chỉ đạo Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình TP HCM "phải lấy chuyển đổi số làm nền tảng cốt lõi, tích hợp các công cụ, nền tảng công nghệ số hiện đại để phân phối thông tin chính thống một cách nhanh chóng theo thời gian thực".
Nhưng một nền báo chí được coi là "lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; là cầu nối gắn kết mật thiết giữa Đảng bộ, chính quyền với các tầng lớp nhân dân", như lời ông Phong, sẽ phát triển thế nào trong kỷ nguyên số?
Những bài toán nan giải trước sắp xếp
Sau giai đoạn phát triển mạnh thời thập niên 1990-2000, báo chí Việt Nam bước vào kỷ nguyên số.
Khoảng nửa đầu thập niên 2000 trở đi, các tờ báo tại TP HCM, cũng như cả nước, khởi động lập website, ban đầu chỉ đơn thuần là xuất bản những bài viết đã đăng trên báo giấy để phục vụ công chúng rộng rãi hơn.
Các tòa soạn lúc bấy giờ giằng co với nhau trước câu hỏi lớn: Đăng lên mạng rồi ai mua báo giấy nữa?
Nhưng câu hỏi mang tính kháng cự ấy rồi cũng đã bị cuốn đi trong cơn lốc số hóa mạnh mẽ có phạm vi toàn cầu.
Câu hỏi ở giai đoạn tiếp theo nan giải hơn: Làm sao để kiếm tiền trong kỷ nguyên số, khi mà thời kỳ thu tiền bán báo giấy và bán quảng cáo báo giấy đang dần qua?
Trước khi internet bùng nổ – và sau đó là mạng xã hội – những tờ báo lớn như Tuổi Trẻ và Thanh Niên chứng kiến lượng phát hành lên đến gần nửa triệu bản mỗi ngày. Phần quảng cáo luôn dày cộp, thường nhiều trang hơn cả phần nội dung.
Tuy nhiên, khoảng từ năm 2010 trở đi, khi internet, mạng xã hội và báo điện tử phát triển, các tờ báo in truyền thống lâm vào thế khó khăn. Phát hành tụt xuống còn vài chục ngàn bản, quảng cáo trên báo in "mỏng lét".
Các tờ báo in truyền thống gia nhập cuộc chơi trực tuyến chậm hơn và đối mặt với nhiều khó khăn hơn so với các tờ báo thuần điện tử, vốn ra đời trên cơ sở những công ty công nghệ viễn thông như Vietnamnet, VnExpress. Nguyên nhân cơ bản là giằng co nội bộ – sự kháng cự giữa "phe thủ cựu báo giấy" và "phe cấp tiến điện tử" ngay trong các tòa soạn – cũng như sự am hiểu về công nghệ internet, nguồn lực công nghệ có giới hạn của các tờ báo giấy truyền thống so với các báo thuần điện tử.
Sự phát triển của internet cũng khiến quan hệ giữa các tờ báo với khách hàng quảng cáo truyền thống thay đổi. Trước đây, báo chí gần như là kênh truyền thông đại chúng duy nhất để các nhãn hàng tiếp cận khách hàng tiềm năng. Từ khi có internet và mạng xã hội, các công ty có thể đi thẳng tới khách hàng mà không cần thông qua báo chí. Họ có thể tự mở website, tự lập trang Facebook, có thể đặt quảng cáo với người nổi tiếng trên mạng xã hội mà không cần mua quảng cáo tại các tòa soạn báo.
Một trong những lý do chính khiến các công ty vẫn còn đặt quảng cáo ở các tờ báo thực ra không phải là hiệu ứng lan tỏa do báo chí mang lại, mà là quyền lực của báo chí – mối quan hệ mà họ cần phải giữ.
Mối quan hệ này tạo ra rủi ro lớn về đạo đức và pháp lý. Khi quan hệ lợi ích gắn chặt với nhau, báo chí đánh mất đi chức năng phản ánh tiêu cực, trong bối cảnh hoạt động bán quảng cáo ở các tòa soạn do các nhân sự phụ trách nội dung đảm nhiệm.
Làm sao một tờ báo có thể chủ động phản ánh tiêu cực của chính công ty đang trả rất nhiều tiền quảng cáo cho mình? Làm sao một phóng viên có thể phanh phui tiêu cực một "mối quảng cáo" của mình?
Giai đoạn này, công chúng Việt Nam có câu đùa: báo chí giờ bị hai tầng quản lý: nhà nước và doanh nghiệp.

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Một hướng đi mới là mở cổng thu tiền độc giả trực tuyến. Báo Tuổi Trẻ mở Tuổi Trẻ Sao, Người Lao Động cũng mở "cổng VIP" để thu tiền độc giả, nhưng không thu được kết quả khả quan.
Lãnh đạo các cơ quan báo chí Việt Nam thường viện dẫn vi phạm bản quyền tràn lan – tình trạng ăn cắp bài báo rồi đăng tải lại nơi khác – là nguyên nhân khiến độc giả không cần vào website của báo để đọc bài.
Quả thật, vi phạm bản quyền là một trong những nguyên nhân chính – và điều này cũng đúng tại các nước khác. Nhưng sâu xa hơn vẫn là chất lượng của món hàng mà các tờ báo làm ra để bán trên không gian mạng, nơi mà sự cạnh tranh luôn khốc liệt, có tính chất toàn cầu và không chỉ giữa các báo với nhau.
Nằm dưới sự quản lý của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí Việt Nam thường đưa tin "đồng phục" một cách nhất quán, đối với các vấn đề mà đông đảo công chúng quan tâm. Báo chí có thể bình luận điểm mạnh, điểm yếu, khả năng thắng thua của các ứng viên tổng thống Mỹ, nhưng không được phép bình luận về các phương án nhân sự của Trung ương Đảng. Người đọc muốn biết "ai lên, ai xuống" thì phải theo dõi tin đồn trên mạng – mà thực tế cho thấy phần lớn các tin "thông tấn xã vỉa hè" sau đó đều đúng.
Báo chí còn không được gọi cuộc chiến ở Ukraine là chiến tranh – và rằng quân Nga đã tấn công nước láng giềng. Thay vào đó, họ gọi là "chiến dịch quân sự đặc biệt", theo đúng như diễn ngôn của Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Nền báo chí đồng phục ấy khó sản xuất ra sản phẩm thực thụ để bán cho người đọc. "Làm sao mà lấy đồ cúng ra bán cho khách hàng được?" một chuyên gia truyền thông và là cựu nhà báo chia sẻ với BBC News Tiếng Việt, ý nói rằng báo toàn bài "cúng cụ", "trăm báo như một" thì không thể bán bài được.
Sự siết chặt quản lý của Đảng
Báo chí phải luôn nằm dưới sự quản lý của Đảng. Điều này được thể hiện rõ ràng và nhất quán từ trước đến nay, qua phát biểu của lãnh đạo, trong các văn kiện của Đảng, trong quy định của chính quyền.
Để đảm bảo điều đó, ở Việt Nam, báo chí tư nhân không được phép hoạt động, dù trên thực tế có một số trang mạng hoạt động như báo chí bằng cách "mượn danh" tờ báo khác.
Vào ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh rằng "người làm báo không bao giờ được quên những giá trị cốt lõi của báo chí cách mạng, đó là lý tưởng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng", và rằng "báo chí phải là lực lượng đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch".
Đây không phải là điều gì mới mẻ mà là quan điểm xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các nhà lãnh đạo của Đảng biết rõ cho phép báo chí tự do, báo chí đối lập sẽ nguy hiểm như thế nào đối với vị thế lãnh đạo độc tôn của mình.
Sau khi thống nhất đất nước, vì nhu cầu vỗ về Thành phần thứ ba, vì cần một kênh hữu hiệu để nói chuyện với trí thức và nhân dân miền Nam, Đảng đã cho phép hai tờ báo trước 1975 là Đứng Dậy (Tạp chí Đối Diện cũ) và Tin Sáng hoạt động.
Nhưng sau một thời gian ngắn, các tờ báo này đã được tuyên bố "hoàn thành nhiệm vụ" và bị đóng cửa. Thực tế cho thấy, dù những người chủ trương các tờ báo này có cảm tình hoặc ủng hộ chính quyền cách mạng, nhưng cách làm báo tự do dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã ăn vào máu họ không chung sống được với ý chí kiểm soát toàn diện của Đảng.
Giáo sư Lý Chánh Trung – một trí thức thuộc Thành phần thứ ba – từng nói: "Báo chí, tự nó không bao giờ là một sức mạnh. Sức mạnh của báo chí là sức mạnh của nhân dân, khi báo chí dám nói sự thật của đất nước và ý nguyện của nhân dân." Đó không phải là quan điểm được chấp nhận trong một nền báo chí công cụ.
Trong một thời gian khá dài – từ thập niên 1990 đến đầu thập niên 2010 – báo chí đã có một không gian khá thoáng, dù vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Đảng. Các tờ báo với tổng biên tập vốn phần lớn là nhà báo đi lên được phép đụng tới nhiều vấn đề gai góc.
Vào năm 1993, vụ án mạng cầu Chương Dương (Hà Nội) đã được Tổng cục Cảnh sát điều tra và kết luận nghi phạm là trung úy cảnh sát giao thông Nguyễn Tùng Dương phạm tội "vô ý giết người trong khi thi hành công vụ" và chuyển cho Viện Kiểm sát. Nhưng phóng viên của các báo Đại Đoàn kết và Phụ nữ Thủ đô đã tiến hành điều tra, giúp lật ngược lại vụ việc, dẫn tới bản án tử hình cho viên sĩ quan công an.
Tại TP HCM, năm 2005, phóng viên Lan Anh của Báo Tuổi Trẻ bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố về hành vi "chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước", đồng thời ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, sau khi thực hiện bài điều tra về Công ty dược Zuellig Pharma Việt Nam. Báo Thanh Niên đã tiến hành chất vấn nhiều bên, tra cứu quy định và kết luận: "Công văn của Bộ Y tế mà phóng viên Lan Anh dẫn trong mẩu tin nói trên không thuộc phạm vi 'mật' nào cả."

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Năm 2008, khi hai phóng viên Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên) và Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) bị bắt do viết bài về vụ tiêu cực PMU18, Báo Thanh Niên trong bài viết Phải trả tự do cho các nhà báo chân chính đã phỏng vấn Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Đinh Thế Huynh. Ông Huynh nói rằng "Hội Nhà báo bảo vệ quyền hành nghề chính đáng của hội viên trên cơ sở pháp luật." Dù nỗ lực của Thanh Niên, và Tuổi Trẻ, đã không giúp các nhà báo tránh được án tù, nhưng ít nhất họ có thể phản biện lại công an. Chủ tịch Hội Nhà báo lúc bấy giờ cũng đã lên tiếng đúng vai trò: bảo vệ quyền của hội viên.
Không gian khoáng đạt ấy đã ngày càng thu hẹp. Báo chí, với nhân sự tổng biên tập thường ưu tiên là cán bộ Đảng hơn là nhà báo kỳ cựu, dần hiếm những bài phản biện, những phóng sự điều tra độc lập đụng chạm tới quyền lực nhà nước, tới quân đội, công an.
Bám sát định hướng của Đảng, Hội Nhà báo vào năm 2016 đã ban hành Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam với 10 điều. Trong số đó, điều thứ nhất yêu cầu nhà báo phải "trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…".
Sự siết chặt quản lý của Đảng đã khiến báo chí dè dặt hơn bao giờ hết. Không còn nhiều bài phản biện chính sách như trước, không còn "bật lại" cơ quan công an. Xu hướng chủ đạo trong những năm gần đây của báo chí là "hưởng ứng" và "tuyên truyền". Các phóng sự điều tra, phản ánh tiêu cực chủ yếu nhằm vào các vấn đề xã hội.
Công chúng muốn tìm kiếm những nội dung phản ánh bất cập của hệ thống, những vấn đề thượng tầng, buộc phải dựa vào các nguồn tin bên ngoài báo chí, với mức độ khả tín khó lường.

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Tương lai nào sau sắp xếp?
Hàng loạt tờ báo bị dẹp và một cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình mới đã chính thức đi vào hoạt động tại TP HCM, theo sau các sắp xếp tương tự ở các địa phương khác.
Sự sắp xếp lãnh đạo của cơ quan mới có thể giúp dự báo định hướng của cơ quan này.
Tổng Giám đốc là ông Lê Văn Minh, sinh năm 1973, người có sự nghiệp từ trước đến nay tập trung vào công tác đảng, công tác tuyên giáo.
Bốn vị phó của ông Minh là các lãnh đạo từ các cơ quan báo chí đã giải thể, tái cơ cấu trên địa bàn, gồm ông Nguyễn Khắc Văn (từ Báo Sài Gòn Giải Phóng), ông Cao Anh Minh (từ Đài Phát thanh và Truyền hình TP HCM), ông Trần Xuân Toàn (Báo Tuổi Trẻ), ông Tô Đình Tuân (Báo Người Lao Động).
Sự sắp xếp lại báo chí TP HCM là kết quả của một quá trình quy hoạch báo chí trên toàn quốc đã được đề xuất từ thập niên trước.
Ngày 12/3/2015, Bộ Chính trị đã thông qua Đề án Quy hoạch phát triển quản lý báo chí toàn quốc đến 2025 do Bộ Thông tin và Truyền thông soạn.
Đến ngày 3/4/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 362 Phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
Quyết định nhấn mạnh quan điểm:
- Báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
- Phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt, theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đề án quy hoạch báo chí đã được thông qua từ hơn 10 năm trước, đến thời Tổng Bí thư Tô Lâm thì được triển khai mạnh mẽ hơn, bên cạnh việc sắp xếp lại bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính.
Mục đích của việc sắp xếp này – theo tuyên bố của các lãnh đạo Đảng – là để có những cơ quan truyền thông mạnh hơn, đáp ứng yêu cầu của Đảng và phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ và sự thay đổi thị hiếu, hành vi tiêu thụ thông tin của công chúng.
Mô hình tập đoàn báo chí đa nền tảng do nhà nước quản lý dường như đã được tham khảo từ các mô hình tương tự ở Trung Quốc, Singapore và Nga.
Tại Trung Quốc, vào năm 2018, Đài Phát thanh và Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CMG) đã ra đời từ sự hợp nhất của Đài Truyền hình Trung ương (CCTV), Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương (CNR), Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc (CRI) và Mạng Truyền hình Toàn cầu Trung Quốc (CGTN), đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tuyên truyền Trung ương Đảng (tương tự Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương của Việt Nam).
Ở cấp độ địa phương, Trung Quốc cũng có những đơn vị báo chí tương tự, chẳng hạn Tập đoàn Báo chí Thượng Hải thuộc Thành ủy.
Trong những năm qua, đã có nhiều đoàn lãnh đạo trung ương và địa phương của Việt Nam tham quan các tập đoàn báo chí nhà nước Trung Quốc. Có thể hiểu là những gì thu được từ các chuyến tham quan ấy có thể gợi ý cho chính quyền trong việc thành lập các cơ quan truyền thông mới hiện nay.
Ở mức độ xa hơn, Việt Nam có lẽ cũng tham khảo mô hình của Nga, nơi có các tập đoàn truyền thông hùng mạnh như RT, hoặc Singapore, nơi có hai tập đoàn SPH Media và Mediacorp do nhà nước sở hữu hoặc hậu thuẫn.
Tham vọng phát triển, qua phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam và TP HCM, là rất lớn. Tuy nhiên, những mâu thuẫn nội tại của báo chí công cụ – vừa phục vụ công tác tuyên truyền của Đảng, vừa "phụng sự bạn đọc, công chúng" và theo đuổi sự thật trong một thị trường báo chí cạnh tranh – vẫn là những thách thức lớn của hướng đi này.

















