Khi địa lý là định mệnh: Ký ức Sài Gòn nơi chiếc đồng hồ chợ Bến Thành

Tấm biển chào mừng đến khu Little Sài Gòn ở Denver, Colorado, Mỹ

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Tấm biển chào mừng đến khu Little Sài Gòn ở Denver, Colorado, Mỹ
    • Tác giả, Nguyễn Hữu Liêm
    • Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ California, Hoa Kỳ
  • Được đăng
  • Thời gian đọc: 10 phút

"Khi vị Cha già sáng thế nhìn thấy sinh vật mà Ngài đã tạo ra liền quyết định dựng lên ảnh tượng di động của vĩnh hằng… chúng ta gọi là Thời Gian." (Plato, trong Timaeus)

Nếu nói theo Plato rằng "Thời gian là ảnh tượng di động của vĩnh hằng" thì tôi xin nói thêm "Không gian là quán trọ của ký ức".

Đối với khối dân di cư từ miền Nam qua Mỹ sau 1975 thì Sài Gòn chính là khoảng không gian vẫn còn dung chứa tràn ngập nỗi nhớ cho một thế hệ đang dần mất hết dấu vết quá khứ. Sài Gòn là di ảnh lưu động của một ngôi đền vĩnh hằng mà di dân chúng tôi ở California này vẫn thường đến chiêm bái và vọng tưởng về những gì đã không còn – nhưng nay đã trở nên vĩnh cửu. Khi đứng trước ngọn tháp cao tầng của ký ức, cái không còn chính là thực tại, cái đang là, ảo giác, và cái sẽ là vẫn mãi hư không.

Chợ Bến Thành khoảng thập niên 1910

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Chợ Bến Thành khoảng thập niên 1910

Khi địa phương là số phận: Người gốc Quảng Nam và Hà Nội 54

Sài Gòn là trạm trung chuyển lớn cho phần đất Trung và Nam bộ. Nơi đó là ga tàu đưa con người tứ xứ từ các địa danh nghèo khổ, quê mùa, mộc mạc lên đến nấc thang quốc tế, hoàn vũ.

Người miền Trung đến Sài Gòn để được chuyển hóa. Họ mang bản sắc cá tánh và nhân cách địa phương đến đô thị để va chạm và sinh tồn vốn đòi hỏi họ phải thay đổi. Anh chàng Hà Tĩnh đi mô cũng ngậm điếu thuốc vấn trên môi nay phải giấu đi khi ra khỏi nhà vì sợ mấy cô Sài Gòn thanh lịch che miệng nhìn cười. Nỗi ấm ức đầy mặc cảm của dân miền xa khi sánh vai với dân đô thị làm cho họ vươn lên bằng ý chí khát sống, háo thắng như một bản năng. Người Sài Gòn nhận xét rất bén về dân nhập cư. Hãy nói cho họ biết về quê quán của ngươi là họ sẽ biết gần hết về con người của bạn.

Từ cuối Thế kỷ 17, khi nhà Nguyễn thành lập Phủ Gia Định, với tên gọi Sài Gòn, thì đô thị mới này thể hiện tinh thần phóng khoáng của miền sông nước đầy năng động. Có lẽ ngoại trừ vụ tàn sát người gốc Hoa ở Chợ Lớn năm 1782 bởi lính của Tây Sơn Nguyễn Nhạc hay những năm sau 1975, dân Sài Gòn, so với các địa phương khác, ít bị những chấn thương lịch sử lớn. Có lẽ vì thế mà dân ở đây chấp nhận và dung hòa nhiều sắc dân rất khác biệt nhau về sinh sống. Dân Sài Gòn không căm thù, giết nhau vì khác biệt gốc gác. Quá lắm thì họ chỉ ghẹo dân Nghệ An một cách vô hại, dí dỏm, "Thằng xứ Nghệ ăng coong cá gỗ kìa," hay dân Hà Nội 54, "Ê thằng Bắc kỳ rau muống kia!"

Thanh niên trên đường phố Sài Gòn năm 1972

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Đường phố Sài Gòn năm 1972

Tuy nhiên, nếu bạn hỏi, từ góc độ địa lý, thì dân di cư miền nào xưa nay năng động nhất ở Sài Gòn, thì có lẽ họ sẽ nói là dân Quảng Nam, và sau 1954, dân di cư Hà Nội, Hải Phòng. Cho đến khoảng 10 năm trở lại đây, ví dụ, dân gốc Quảng Nam kiểm soát gần hết năm lãnh vực sinh hoạt, công quyền và kinh tế Sài Gòn: báo chí, công an, quán bia, bê thui và dệt may. Thời chiến tranh Quốc-Cộng, phần lớn các cán bộ Việt Cộng nằm vùng là người Quảng Nam. Cho đến ngày nay vẫn thế, dân gốc Quảng Nam vẫn là thành phần năng nổ nhất ở Sài Gòn, từ các nhóm bất đồng chính kiến đến văn chương, nghệ thuật.

Trong khi dân Hải Phòng dù năng động, hay dân gốc Hà Nội văn hay chữ tốt cũng bị dân gốc Quảng Nam gạt ra lề. Hỏi một nhà báo về lãnh đạo truyền thông ở Sài Gòn thì hầu hết là dân gốc Quảng Nam. Ngay cả dân gốc Thanh Nghệ Tĩnh cũng chỉ vươn lên ở lãnh vực khoa bảng, chính trị lãnh đạo, hay đại gia tư bản thân hữu, nhưng nhìn chung, về bình diện dân sự quần chúng, người Quảng Nam vẫn làm chủ tình hình.

Lạ lùng nhất là dân di cư gốc Huế ở Sài Gòn lại là khối dân bất động, liệt cơ, rất ít có nổi lên ở bất cứ lãnh vực nào, ngoại trừ trong các giáo hội Phật hay Công giáo. Có lẽ sự suy tàn của kinh đô và triều đại nhà Nguyễn ở Huế đã kéo theo sự tê liệt ý chí thế gian của con cháu xứ thần kinh Phú Xuân.

Nhìn chung, ta có thể nhận thấy một điều hiển nhiên: Người Hà Nội, hay Huế, có thể trở thành người Sài Gòn, từ giọng nói, đến tính cách – nhưng ngược lại thì không. Dân Sài Gòn có ra Hà Nội sinh sống từ nhỏ vẫn không trở thành người miền Bắc. Hình như Sài Gòn là trạm cuối – the final destination – cho đoàn xe lửa một chiều của dân tộc. Điều đó cho ta thấy rằng văn minh Sài Gòn từng đứng ở điểm cao nhất trong chiều dài tiến hóa của tâm hồn Việt Nam.

Chỉ khi đi ra khỏi nước, như trường hợp sau 1975, khi định cư ở một nền văn hóa cao hơn, thì người Sài thành mới trở thành người ngoại quốc – một cách dễ dàng. Làm người Việt, khi là một thành tố của dân tộc, đối với dân Sài Gòn, có lẽ là một gánh nặng, hơn là một ân huệ. Các khu phố Little Saigon khắp nơi trên thế giới chỉ là mối vương vấn tạm thời cho thành phố cũ.

Di sản lớn của con cháu nhà Minh, Trung Hoa

Từ khi nhà Minh sụp đổ ở giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu và Dương Ngạn Địch đem các dòng vọng tộc bị thất sủng sang miền Nam lánh nạn thì Sài Gòn đã nhận được một món quà con người lớn. Con cháu nhà Minh mang di sản tiến hóa cao cấp, tánh tình nhân hậu, hiền hòa, ngoại hình xinh đẹp, đến xây dựng miền Nam, nhất là các đô thị miền Tây. Từ đó, Sài Gòn là thủ phủ thừa hưởng gia tài văn minh nhân loại lớn đó.

Nếu các đại gia ở Sài Gòn muốn tìm thuê một gia nhân ở đợ, họ chỉ tìm các cô gái, các bà gốc miền Tây. Người miền Tây, mang dòng máu vọng tộc nhà Minh, với bản tánh hiền hòa, nặng chữ tín, không gian xảo, từ lâu vốn là một nguồn đạo đức khá vững chắc xây dựng văn hóa Sài Gòn. Họ không có khiếu văn chương, học thuật, hay mang tham vọng quyền lực, nhưng họ giỏi về buôn bán, kinh doanh, trọng chữ tín. Họ là xương sống văn hóa bình dân Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn. Nếu bạn có lần đứng chờ taxi dưới mái hiên phố Sài Gòn trong cơn mưa xối xả thì người Hoa trong nhà sẽ đem cho bạn chiếc ghế để bạn ngồi.

Văn minh Trung Hoa, từ bình diện nhân cách phổ thông, đã cho Sài Gòn một khối quần chúng như là món quà ân sủng di dân từ bi kịch lịch sử từ mấy thế kỷ trước. Có lẽ, người gốc Hoa đã từ lâu quân bình hóa, ít nhất từ bình diện tánh khí, nhân cách, cho các khối dân di cư từ miền Bắc và miền Trung vốn khá hung hãn, đầy mưu mô, nhiều tài năng. Nếu dân gốc Quảng Nam hay Thanh Nghệ Tĩnh là luồng năng lực tiên phong, thì dân gốc Hoa là nền móng nhân bản hiền hòa cho văn minh Sài Gòn.

Qua California với phố Bolsa: Chiếc đồng hồ chợ Bến Thành di cư

Khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, những năm sau đó là phong trào di cư, tỵ nạn vươn ra biển lớn. Người Sài Gòn qua Hoa Kỳ tìm đường sống mới. Lần đầu tiên, có lẽ chỉ sau Nguyễn Ánh ở cuối thế kỷ 18, chưa có lần nào dân tộc Việt Nam nhìn đại dương, thay vì ngại trước không gian hiểm nguy ngăn cách, là một cơ hội thoát ly.

Khi xưa Nguyễn Ánh thành lập hạm đội hải quân để trở về lấy lại quê hương, thì sau 1975, người Việt, phần lớn là từ Sài Gòn và các tỉnh duyên hải miền Tây, đã liều mình làm thuyền nhân để từ bỏ quê nhà. Tức là dân vượt biên Sài Gòn là những tín đồ Nguyễn Ánh đảo ngược. Khi họ ra đi, sống chết mong manh, niềm hy vọng vùng đất mới Hoa Kỳ, hay Âu châu, đã mạnh mẽ thúc đẩy họ hơn là sự níu kéo của quê hương để ở lại. Nếu Nguyễn Ánh vươn ra biển để lấy lại cơ đồ giang sơn, thì ngược lại, dân Sài Gòn muốn từ bỏ một thứ số phận địa lý ngặt nghèo.

Từ viễn cảnh lịch sử lâu dài, có thể nói rằng, phong trào vượt biển sang các nước Âu Mỹ sau 1975 là một cột mốc lớn, một ân huệ lịch sử – dù đầy đau thương. Dân tộc Việt Nam, lần đầu, được giải phóng khỏi định mệnh địa lý vốn trói chặt và giam hãm họ từ bao nhiêu đời với tánh khí địa phương nhiều khuyết điểm.

Một tiệm ăn với tên gọi gợi nhớ Sài Gòn tại khu Little Saigon ở Westminster, California

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Một tiệm ăn với tên gọi gợi nhớ Sài Gòn tại khu Little Saigon ở Westminster, California

Dân Sài Gòn tìm đến Quận Cam, bang California, lập nghiệp. Phố Bolsa nay là một tiểu thị Chợ Lớn khác, mang danh tính mới, Little Saigon, với niềm kiêu hãnh của một khối di dân nhiều cao vọng. Bolsa là một quận nhỏ, muốn sao chép văn minh Sài Gòn xưa, đơn giản về kiến trúc, luộm thuộm về hình thái, cư dân thì ngổn ngang tâm sự qua hằng hà sa số các mẫu chuyện quá khứ cá nhân, họp mặt hội đoàn, các cơ sở kinh doanh nhỏ bé, các mâu thuẫn cộng đồng, những mùa tranh cử chính trị địa phương náo nhiệt.

Văn minh Bolsa, từ trang trí nơi quán cà phê, nhà hàng, hay ngôi chợ, văn phòng dịch vụ, là của một thể loại tâm thức duy sống còn. Bạn sẽ ngạc nhiên khi về lại Sài Gòn bây giờ, các quán cà phê, hay nhà hàng, mang tầm thiết kế nội thất rất cao cấp, mỹ thuật xứng đáng. Nhưng ở đó, từ góc quán, ta sẽ nghe Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng được thâu âm ở phố Bolsa. Người Sài Gòn ra đi, nhưng tâm hồn còn vương vấn vất vưởng nơi các góc phố kia.

Hôm nay, dân Bolsa gốc Sài Gòn cố gắng làm một bản sao quê nhà qua hình tượng chợ Bến Thành, với một chiếc đồng hồ lớn trên nóc. Tuy vậy, ở Mỹ hay Âu châu, hay Nga Xô, ta khó mà hình dung ra một hình thái phố chợ giống như Sài Gòn cũ, vốn được dựng lên qua hơn ba thế kỷ. Năm mươi năm di cư chỉ là phút chốc trước chiều dài như bất tận của hơn 300 năm trường cửu. Khi ta nhìn chiếc đồng hồ ở góc phố Bolsa hôm nay, thay vì nó là một hình ảnh Sài Gòn xưa – đã trở thành một biểu cảm di động mà quá khứ và ký ức vốn đã bị thay thế bởi ý chí sinh tồn ở miền đất mới.

Chơi cờ tướng bên đường phố ở Little Saigon, Westminster, California, Mỹ

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh, Chơi cờ tướng bên đường phố ở Little Saigon, Westminster, California, Mỹ

Ảnh tượng vĩnh hằng

Có thể rằng ân huệ lớn cho con cháu người Sài Gòn ở California, hay bất cứ địa phương hải ngoại nào, là khả năng quên đi quá khứ, lịch sử gia đình. Họ chỉ có tương lai – còn ký ức Sài Gòn thì chỉ là một giấc mơ muôn đời thoáng qua như sự di động của chiếc kim đồng hồ trên nóc chợ Bến Thành kia.

Như Plato từ hơn hai ngàn năm trước đã có lần suy diễn rằng khi Thượng Đế đã hoàn tất sáng thế, Ngài chỉ vào chiếc bóng bên tường rêu, gọi là ảnh tượng chuyển hóa từ ký ức muôn thửa, mà ta cho là Thời gian.

Đó chính là chiếc đồng hồ lớn mới được dựng lên mấy tháng trước trên nóc chợ người Việt gốc Hoa ở góc đường Brookhurst và Bolsa, thị xã Westminster. Nó vẫn mãi là biểu tượng hiếm muộn cho một Sài Gòn nay đã không còn.

  • Tác giả Nguyễn Hữu Liêm là tiến sĩ triết học, luật sư ở San Jose, California, Hoa Kỳ.